Thứ Sáu, 5 tháng 5, 2017

Hợp đồng lao động vô hiệu

Ls. Trần Hồng Phong giới thiệu


Hợp đồng lao động vô hiệu (hay có thể nói một cách đơn giản dễ hiểu là "không có giá trị pháp lý") là trường hợp toàn bộ hoặc một phần của bản Hợp đồng lao động đã ký giữa hai bên bị Thanh tra lao động hoặc Tòa án có thẩm quyền tuyên là "vô hiệu". Mục đích của việc xác minh và kết luận (tuyên) hợp đồng lao động vô hiệu hay không vô hiệu - nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ lao động (hợp đồng lao động) đang tồn tại giữa hai bên là đúng hay chưa/không đúng quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó, phía Người sử dụng lao động phải có sự bổ sung và/hoặc sửa đổi những nội dung chưa đúng - theo hướng đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động.

Những nội dung trái pháp luật trong hợp đồng lao động bị tuyên vô hiệu không có giá trị pháp lý và bị hủy bỏ (ảnh minh họa)

Vấn đề hợp đồng lao động vô hiệu, hay cụ thể hơn, là những trường hợp nào thì hợp đồng lao động bị xác định và vô hiệu, ai có thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu? - được quy định tại Bộ luật lao động (năm 2012) và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động.

Ví dụ: Công ty A ký hợp đồng lao động với anh B làm kế toán tại công ty. Trong quá trình làm việc, anh B liên tục bị giám đốc công ty A chỉ đạo làm những công việc không đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng (chẳng hạn là làm công việc bán hàng). Anh B liền khiếu nại lên Liên đoàn lao động quận. Liên đoàn lao động đã cử Đoàn thanh tra làm việc, và phát hiệu Hợp đồng lao động giữa Công ty A và anh B, về phía công ty, do phó giám đốc ký nhưng chưa được sự ủy quyền của Giám đốc công ty. Theo đó, Thanh tra lao động đã xác định hợp đồng lao động giữa hai bên là "vô hiệu" do người ký kết hợp đồng lao động không có thẩm quyền. Đồng thời yêu cầu Công ty A phải chấm dứt việc yêu cầu anh B phải làm những công việc không đúng theo thỏa thuận giữa hai bên trong hợp đồng.

Dưới đây là quy định tại Bộ luật lao động (năm 2012): 

.........

Điều 50. Hợp đồng lao động vô hiệu

1. Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động trái pháp luật;
b) Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền;
c) Công việc mà hai bên đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc bị pháp luật cấm;
d) Nội dung của hợp đồng lao động hạn chế hoặc ngăn cản quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động.

2. Hợp đồng lao động vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng.

3. Trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động quy định quyền lợi của người lao động thấp hơn quy định trong pháp luật về lao động, nội quy lao động, thoả ước lao động tập thể đang áp dụng hoặc nội dung của hợp đồng lao động hạn chế các quyền khác của người lao động thì một phần hoặc toàn bộ nội dung đó bị vô hiệu.

Điều 51. Thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

1. Thanh tra lao động, Toà án nhân dân có quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

2. Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục thanh tra lao động tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

Điều 52. Xử lý hợp đồng lao động vô hiệu

1. Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần thì xử lý như sau:

a) Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên được giải quyết theo thỏa ước lao động tập thể hoặc theo quy định của pháp luật;
b) Các bên tiến hành sửa đổi, bổ sung phần của hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu để phù hợp với thỏa ước lao động tập thể hoặc pháp luật về lao động.

2. Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì xử lý như sau:

a) Trong trường hợp do ký sai thẩm quyền quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật này thì cơ quan quản lý nhà nước về lao động hướng dẫn các bên ký lại;

b) Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động được giải quyết theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định cụ thể Điều này.

...............

Bài liên quan:
  • Trình tự, thủ tục tuyên bố HĐLĐ vô hiệu của Thanh tra lao động & Xử lý HĐLĐ vô hiệu

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét